GS. Hoàng Chí Bảo: Từ lời dạy của Bác đến chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp

Vận dụng những lời dạy của Bác, có thể xác định những chuẩn mực chung về đạo đức nghề nghiệp, tiếp theo phải cụ thể hoá vào từng nghề cụ thể, từ lao động giản đơn tới lao động phức tạp, tới công việc lãnh đạo quản lý với trách nhiệm nặng nề do dân uỷ thác, để thực thi có kết quả những công việc được giao, những trọng trách do dân giao phó.

 

1. Về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Đảng ta khởi xướng từ Đại hội X là một chủ trương hết sức đúng đắn, kịp thời và đem lại hiệu ứng xã hội rộng lớn. Quyết định này của Đảng đã đáp ứng đúng nguyện vọng của toàn Đảng toàn dân. Đó là một quyết định rất hợp lòng dân bởi nhân dân ta vô cùng kính yêu, ngưỡng mộ và biết ơn vô hạn Bác Hồ về tất cả những gì mà Người đã đem lại cho Tổ quốc, Dân tộc và nhân dân ta. Đó là độc lập cho Tổ quốc, Tự do cho dân tộc và Hạnh phúc cho đồng bào, từng gia đình cho đến từng con người, cho các thế hệ người Việt Nam chúng ta - hiện nay và mai sau.

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, khi hướng về Tổ quốc cũng đồng thời là hướng về Người - con người Việt Nam đẹp nhất, hài hòa Chân - Thiện - Mỹ, trọn đời vì Nước vì Dân, dâng hiến toàn vẹn, trọn vẹn cuộc đời và sự nghiệp của mình vì Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của nhân dân.

Hồ Chí Minh đã từ lâu trở thành biểu tượng cao quý cho Trí tuệ và tâm hồn Việt Nam, cho lòng dũng cảm và đức hy sinh, anh hùng và bất khuất, nghị lực phi thường và niềm tin mãnh liệt vào tương lai của dân tộc và con người Việt Nam. Người còn là sự kết tinh và thăng hoa những giá trị văn hóa Việt Nam, đạo đức thanh tao, lối sống cao thượng, sống vì dân, làm tất cả những gì có thể làm được cho dân, cho dân tộc mình cũng như cho cả nhân loại. Bởi thế, Người sống mãi trong lòng dân và trong trái tim nhân loại.

Với Hồ Chí Minh, con người - cuộc đời - sự nghiệp là một. Tư tưởng - phương pháp và phong cách thống nhất hữu cơ với nhau. Tư tưởng sáng tạo, cách tân, đổi mới ngang tầm thời đại. Phương pháp khoa học - cách mạng và hiện đại. Phong cách giản dị, thiết thực và dân chủ. Hồ Chí Minh còn thể hiện nổi bật ở Đạo đức và suốt thời thực hành đạo đức cách mạng. Đạo đức ấy làm nên cái cốt lõi, cốt yếu của nhân cách cộng sản, biểu hiện sinh động và cảm động trong lối sống và lẽ sống của Người, coi phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý lớn nhất, làm đầy tớ, công bộc cho dân là lựa chọn một lẽ sống cao thượng nhất. Chữ “Dân” (nhân dân, quần chúng, đồng bào) nổi bật, nổi trội nhất trong ngôn ngữ của Người. Người thấu hiểu lòng dân, ý nguyện của dân. Người thấu cảm cuộc sống, đời sống của dân. Người quý trọng dân và tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh, sáng kiến và sáng tạo của dân. Người tranh đấu đến cùng cho Độc lập tự do để dân thực sự là chủ và làm chủ. Trí tuệ uyên bác là vậy mà Người vẫn rất mực khiêm nhường, học dân, hỏi dân và luôn tâm niệm rằng, chỉ có làm học trò của quần chúng thì mới lãnh đạo được dân chúng. Thương dân vô hạn là phẩm chất nhân cách cao quý của Người. Không bao giờ xa dân, suốt đời gần gũi, chan hòa với dân chúng cho dù đã ở đỉnh cao quyền lực - đã trở thành nhu cầu văn hóa, thành lối sống văn hóa của Người.

Đó là đạo làm người “Thân dân” và “Chính tâm” mà Người đã thực hành suốt đời, đã nâng cao đạo lý thánh hiền ấy của ông cha ta thành đạo làm người của người cách mạng - Ấy là Dân chủ và Cần Kiệm Liên Chính; chí công vô tư. Cũng như vậy, Hồ Chí Minh đã thực hành triết lý “Vô ngã vị tha” để quên mình và dâng hiến, với sức mạnh đánh thắng giặc nội xâm là chủ nghĩa cá nhân, với bản lĩnh tuyệt đối không màng danh lợi, ở ngoài vòng danh lợi. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và thực tiễn đạo đức Hồ Chí Minh đã trở thành giá trị văn hóa và Người đã từ định hướng giá trị đó mà xây dựng quan niệm lý luận về chủ nghĩa xã hội Việt Nam, về Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền vì dân, là Đảng chân chính cách mạng, tiêu biểu cho đạo đức và văn minh, về nhà nước pháp quyền dân chủ của dân, do dân và vì dân. Muốn cho việc cầm quyền được đúng đắn, muốn cho việc nắm giữ quyền lực không rơi vào thoái hóa, hư hỏng thì cách tốt nhất là phải dựa vào dân, để cho dân giám sát, kiểm tra, phê bình và giúp đỡ. Sức của dân rất mạnh. lực của dân rất lớn. Trí của dân rất sáng. Tâm của dân là thiện tâm, trong lành, bao dung, độ lượng. Dựa vào dân và biết vì dân thì dân tin, dân theo, dân ủng hộ, dân giúp đỡ, dân bảo vệ. Bởi thế dân là thành trì của cách mạng, là sức mạnh bền bỉ, đáng tin cậy nhất để sinh mệnh của Đảng được bảo vệ, để chế độ được bền vững. Từ đó, cần phải có nhận thức đúng về cuộc vận động này. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không thể tách rời học tập và làm theo tư tưởng của Người. Cũng như vây, phải ra sức noi theo và thực hành phương pháp, phong cách, ứng xử văn hóa tinh tế của Người.

Người dạy chúng ta cách suy nghĩ biện chứng, cách làm việc biện chứng, khoa học, bởi Người là nhà biện chứng thực hành xuất sắc nhất. Cần phải khắc phục lối tư duy siêu hình, tách rời giữa học và làm theo, càng phải tránh xa bệnh hình thức, phù phiếm, phô trương, lãng phí, nói nhiều làm ít, lời nói không đi đôi với việc làm – những biểu hiện ấy xa lạ với tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cần phải làm cho cuộc vận động trở thành một cuộc vận động giáo dục và thực hành văn hóa, nhất là thực hành văn hóa trong Đảng. Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh xét theo nghĩa rộng và chiều sâu của nó là xây dựng văn hóa Đảng của Đảng Cộng sản cầm quyền. Sao cho, với cuộc vận động này, từ mỗi tổ chức Đảng, mỗi cán bộ đảng viên đến các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức xã hội, từ đội ngũ công chức trong bộ máy công quyền đến tất cả mọi người dân - ai cũng có nhu cầu văn hóa, từ việc học tập và làm theo những điều Bác dạy. Chỉ có trở thành nhu cầu văn hóa thì mới có sự tự giác và sáng tạo trong mỗi con người và trong mỗi việc làm. Như vậy, tác dụng và hiệu quả của cuộc vận động này mới bền bỉ, lâu dài, trở thành phổ biến. Cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhờ đó mới thực sự tạo ra động lực tinh thần, thành sức mạnh văn hóa tinh thần đối với sự phát triển tốt đẹp và bền vững của xã hội ta, của Đảng và của nhân dân ta, đặc biệt là trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

2. Về những lời dạy tiêu biểu nhất của Bác làm cơ sở cho việc xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp

Di sản tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là vô cùng phong phú và sâu sắc, có giá trị khai sáng (khai trí, khai tâm) và chỉ dẫn thực hành một cách thiết thực cho mỗi người chúng ta.

Có thể thấy trong những lời dạy của Người những gợi ý cụ thể để thực hành tu dưỡng, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp. Nói tời nghề nghiệp là nói tới lao động, tới hoạt động, gắn với những công việc, việc làm hàng ngày của mỗi người, mỗi tập thể.

Những người cùng làm một nghề hợp thành đội ngũ, lực lượng, trong cơ cấu giai cấp, tầng lớp, nhóm và giới trong xã hội.

Bức tranh nghề nghiệp là hết sức đa dạng và chủ thể nghề nghiệp cũng đa dạng một cách tương ứng. Nó tạo thành các quan hệ giữa nghề và người. Đó là những quan hệ xã hội, bởi nghề gì và người nào cũng biểu hiện ra trong môi trường xã hội, môi trường công tác, môi trường hoạt động nghề nghiệp gắn liền với những thể chế, thiết chế trong xã hội, trong đó không thể không nói đến những tính quy định của luật pháp, kỷ cương, của chế độ và chính sách, của những quy tắc trong ứng xử, giao tiếp giữa người và người bị chi phối bởi mục đích, động cơ, trách nhiệm đối với xã hội.

Nói tới nghề nghiệp còn là nói tới lý tưởng nghề nghiệp, lương tâm và danh dự nghề nghiệp, những định hướng giá trị nghề nghiệp như những giá trị văn hóa. Người ta thường nói tới văn hóa nghề là vì vậy. Lòng yêu nghề, sự say mê, tâm huyết, sống hết mình với nghề, đó là tình yêu nghề nghiệp. Nó là biểu hiện của đạo đức, nhân cách của con người được chứng thực bởi thái độ lao động tự giác, tận tâm, tận lực, cống hiến cho xã hội cả trí lực, tâm lực và tinh lực của mỗi người. Nghề kết tinh trong Nghiệp và sự nghiệp. Nghiệp tỏa sáng, vinh danh cho nghề và chủ thể hành nghề. Dù khác biệt, đa dạng đến đâu thì mọi nghề nghiệp đều đồng quy ở mục đích phục vụ xã hội, vì Nước vì Dân, vì lợi ích chung của cộng đồng, đáp ứng yêu cầu của xã hội.

Con người cũng vậy. Ai gắn bó với nghề thì dấu ấn nghề nghiệp thể hiện rất rõ trong cuộc sống, trong tính cách của người ấy. Mọi người, dù nghề nghiệp khác nhau, vị trí, vị thế khác nhau nhưng đều có những điểm chung – Đó là tư cách công dân, (đối với Nhà nước), tư cách thành viên (đối với cộng đồng xã hội, với tập thể và tổ chức) và cùng phụng sự lý tưởng chung, mục đích chung mà Bác Hồ và Đảng ta đã vạch ra: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Từ nhận thức chung đó, chúng ta cần tìm hiểu những lời dạy tiêu biểu nhất của Bác có giá trị và ý nghĩa đối với việc xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp.

Bác Hồ tự xác định nghề nghiệp của mình là làm chính trị, tự nhận mình là nhà chính trị chuyên nghiệp. Mà chính trị theo quan niệm của Người là vì Độc lập và Tự do của Tổ quốc và dân tộc, vì hạnh phúc của đồng bào mình, của các dân tộc trên quả đất. Người xác định, chính trị là đoàn kết và thanh khiết. Đó là đạo đức trong chính trị. Người xác định động cơ, mục đích hoạt động của mình là vì cơm ăn, áo mặc, nhà ở, học hành, chữa bệnh của mỗi người, vì quyền tự do, hạnh phúc, làm chủ của đồng bào. Người cũng tự xác định, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, như người lính vâng lệnh quốc dân đồng bào ra mặt trận, toàn tâm toàn ý vì công việc, vì nhân dân, không phụ lòng dân, không tự đánh mất niềm tin của dân.

Đó là những gợi mở sâu sắc cho mỗi người chúng ta suy nghĩ về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của mình.

Nói tới những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức chung, Người nhấn mạnh tới dân, phải biết sống và làm việc vì dân, làm điều lợi cho dân, tránh điều hại tới dân. Việc gì có lợi cho dân thì phải làm, khó mấy cũng phải làm cho bằng được. Việc gì có hại tới dân thì quyết tránh cho bằng được, dù chỉ là một cái hại nhỏ. Nói tới dân cũng là nói tới Nước, cho nên phải tỏ rõ lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân để tận hiến cho dân tộc và nhân loại. Đạo đức nghề nghiệp cũng đồng thời là đạo đức phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội. Muốn có đạo đức ấy phải rèn luyện suốt đời, luôn hướng tới hoạt động, việc làm chứ không nói suông. Đạo đức hành động đòi hỏi người có đạo đức cũng đồng thời phải có năng lực. Đức là gốc, tài là quan trọng. Bởi vậy phải thực hành phương châm nói ít làm nhiều, chủ yếu là hành động, lời nói việc làm phải đi đôi với nhau. Người nêu yêu cầu chuẩn mực đạo đức trong “Tư cách của người cách mạng”, với tự mình, với tổ chức, đoàn thể, với công việc. Người nêu rõ, với mình phải nghiêm, với người phải rộng lòng khoan thứ. Người còn đặc biệt nhấn mạnh, phải giữ chủ nghĩa cho vững, phải ít lòng tham muốn về vật chất. Đây là 2 yêu cầu khái quát chung, nói lên phẩm chất đạo đức của cán bộ đảng viên và quần chúng.

Người căn dặn cán bộ chiến sĩ công an mà cũng là căn dặn tất cả mọi người chúng ta phải tận tuỵ, gương mẫu, trách nhiệm qua 6 lời dạy, thấm vào từng mối quan hệ, thể hiện thành thước đo, đánh giá xã hội để con người thực hành nghiêm chỉnh, nhất quán. “Với tự mình phải cần kiệm liêm chính; với công việc phải tận tuỵ; với chính phủ phải tuyệt đối trung thành; với dân chúng phải kính trọng, lễ phép. Với đồng sự phải thân ái giúp đỡ. Với kẻ địch phải cương quyết khôn khéo… Hồ Chí Minh còn nêu rõ, để phục vụ nhân dân phải ham học, ham làm, ham tiến bộ. Điều này Người không chỉ nói với thanh niên mà dường như căn dặn tất cả chúng ta.

Người đòi hỏi đảng viên cán bộ phải tiên phong gương mẫu, đảng viên phải “đi trước” để “làng nước theo sau”. Với công chức, Người đặt ra hàng loạt yêu cầu: thạo chính trị, giỏi chuyên môn, tinh thông nghiệp vụ, tận tuỵ mẫn cán, hết lòng hết sức phục vụ dân, dân chủ chứ không biến thành quan chủ, đầy tớ công bộc của dân chứ đừng vênh mặt, lên mặt quan cách mạng. Biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng, đã phục vụ nhân dân thì việc gì cũng cao quý, tự nguyện tự giác làm việc, chấp hành sự phân công của tổ chức, không tị nạnh, không so bì thiệt hơn, không tự kiêu, tự mãn, phải hết sức khiêm nhường, phải có lòng vị tha, nhân ái, khoan dung.

Người đề cập đến những người cụ thể, những việc và công việc cụ thể để bàn tới đạo đức nhà giáo, đạo đức khoa học, đạo đức thầy thuốc (y đức), người làm nghề tư pháp, “phải thiết diện vô tư”, đạo đức công nhân, nông dân phải thể hiện ra năng suất - chất lượng - hiệu quả. Tiết kiệm từng đồng tiền bát gạo làm ra từ mồ hôi, nước mắt của dân. Thương dân thì phải tiết kiệm. Lãng phí là không thương dân. Tham ô là ăn cắp của dân, là có tội với dân, với đảng, với cách mạng.

Cũng có một lời dạy mà Người hướng tới chiến sĩ bộ đội trong quân đội nhưng thật ra có ý nghĩa cho tất cả mọi người: Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Nói tới đạo đức, Người còn nhấn mạnh, phải dám chịu trách nhiệm, cả quyết sửa lỗi lầm, công khai nhận lỗi để quyết tâm sửa lỗi, như thế sẽ làm cho dân tin, dân ủng hộ. Đừng để dân mất niềm tin, đừng để nhân dân oán ghét, xa lánh. Những chỉ dẫn như thế, đều có thể vận dụng vào nghề nghiệp, thành ra đạo đức nghề nghiệp. Phải vô tư và trong sáng, không hám danh, háo danh, không tham chức, hám quyền. Thắng lợi thì không chủ quan, không kiêu ngạo, thất bại không vội bi quan chán nán. Tuổi trẻ phải ham làm việc lớn ích quốc lợi dân chứ không ham làm quan to… Sâu xa ra, mọi đạo đức nghề nghiệp đều phải VÌ DÂN chứ không vì MÌNH.

Di chúc, thấm sâu và nổi bật trong 1000 từ mà Người để lại là đạo đức, nhân cách cao quý của Người.

3. Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp ngày nay

Xây dựng và thực hiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ đảng viên, công chức, của mỗi người lao động hiện nay có ý nghĩa vô cùng to lớn. Nó vừa là nỗ lực để chấn hưng đạo đức đang bị suy đồi, vừa là tạo ra đảm bảo đạo đức để ngăn chặn sự chệch hướng XHCN, do thoái hoá, biến chất gây ra, do tham nhũng sẽ làm mọt ruỗng chế độ tự bên trong, nhất là trong bước chuyển tới KTTT hoang dã sang KTTT thành thục, văn minh.

Vận dụng những lời dạy của Bác, có thể xác định những chuẩn mực chung về đạo đức nghề nghiệp, tiếp theo phải cụ thể hoá vào từng nghề cụ thể, từ lao động giản đơn tới lao động phức tạp, tới công việc lãnh đạo quản lý với trách nhiệm nặng nề do dân uỷ thác, để thực thi có kết quả những công việc được giao, những trọng trách do dân giao phó. Khái quát hệ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp theo đúng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, có thể xác định những chuẩn mực sau:

- Trung thực - là chuẩn mực hàng đầu, quan trọng nhất.

- Tận tuỵ - là chuẩn mực của lương tâm danh dự, của trách nhiệm, của mục đích, động cơ sống và làm việc. (Tận tâm, tận lực).

- Khiêm nhường – là chuẩn mực của ứng xử, của quan hệ xã hội, trong đời sống hiện thực, cũng đồng thời là văn hoá, lòng tự trọng.

- Sáng tạo – là chuẩn mực lao động của mọi người, đặc biệt là của trí thức, của thế hệ trẻ, của những con người có khát vọng vươn tới tự do; sáng tạo là tìm tòi cái mới, đổi mới, năng động, nhờ đó công việc sẽ không đơn điệu, không nhàm chán. Sức bay của tư tưởng sáng tạo sẽ thúc đẩy đổi mới, phát triển vì mưu cầu hạnh phúc cho dân.

- Vị tha - Nhân ái - Khoan dung. Đây là chuẩn mực trong ứng xử và văn hoá ứng xử.

Với hệ chuẩn mực nêu trên, ứng vào từng nghề nghiệp, từng cương vị công tác, từng người, chúng ta có thể thực hiện được, tự mình đánh giá chính mình, tập thể và cộng đồng sẽ cùng phối hợp, giúp cho mỗi người và mọi người cùng tiến bộ, cùng phát triển.

Thực hiện những chuẩn mực đó cũng là để xây dựng đạo đức, nhân cách, xây dựng môi trường làm việc, hoạt động thực sự là môi trường văn hoá đạo đức. Đó cũng là những chuẩn mực thể hiện được Văn hoá Hồ Chí Minh mà chúng ta cần học tập và làm theo để xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, xứng đáng là đạo đức, là văn minh./.

GS. Hoàng Chí Bảo

(Tham luận tại hội thảo “Từ lời dạy của Bác đến chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp”

do Đảng uỷ Văn phòng Trung ương Đảng tổ chức)