“Tấm lòng vàng” của một người dân xứ đạo

Ông Nguyễn Văn Vàng chăm sóc đàn vịt.

Đồng bào Công giáo xứ Thạch Bích (xã Bích Hòa, huyện Thanh Oai, Hà Nội) những năm qua luôn đóng góp tích cực vào sự phát triển của địa phương, đổi mới cách làm ăn, xây dựng nông thôn mới. Nổi bật trong đó là ông Nguyễn Văn Vàng. Không chỉ làm kinh tế giỏi, ông Vàng còn tích cực vận động nhân dân xứ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ kinh tế - chính trị của địa phương.

Chuyện người thương binh nặng dùng tiền lương làm từ thiện

Bị bom mìn cướp đi đôi chân, rồi lại sa vào nghiện ngập do thời gian dài phải sử dụng thuốc giảm đau morphine, để rồi sau 15 năm sống trong khói thuốc, ông nhận ra giá trị cuộc sống và chuộc lại lỗi lầm bằng việc làm từ thiện. Người được nói đến là thương binh hạng ¼ Nguyễn Hồng Yên.
Thương binh Nguyễn Hồng Yên và đồng đội cũ chiến đấu ở chiến trường Campuchia. Ảnh: VGP/Thủy Lợi

Xương máu thời chiến và lầm lỡ thời bình

Được người đồng đội dẫn đường, chúng tôi tìm về nhà người thương binh có lý lịch khá đặc biệt này tại Xóm 1, xã Lạng Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.

Ngược về quá khứ, ông Yên nhớ lại, vốn sinh ra trong thời bom lửa, lại được chứng kiến những đau thương mất mát do chiến tranh gây nên, nên dù còn 2 tháng mới đủ 18 tuổi, ông vẫn viết đơn xin nhập ngũ, làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia.

Ông được phân về  phục vụ tại Trung đoàn 2, Sư đoàn 8, Quân khu 9, Mặt trận 479, chiến đấu trên chiến trường Tây Nam Campuchia. Tại chiến trường, địch cho gài bom khắp nơi với những mưu mẹo khó lường. “Đó có thể là những quả bom treo trên cây nhờ lợi dụng các loài cây thân cuốn hay mìn cài chìm dưới đất có độ sâu chừng 1 m, phía trên úp miếng ván nhỏ có thể tránh được máy rà mìn hay có thể giấu trong những đám lá ven đường...”, ông Yên kể.

Vì thế hơn 3 lần, ông trúng mìn bị thương. Nhưng phải đến lần thứ ba, trong một đợt trinh sát vào tháng 7/1982, một quả bom phá cài sâu dưới đất phát nổ đã vĩnh viễn cướp đi đôi chân của ông.

Sau lần trúng bom đó, Nguyễn Hồng Yên được đưa về sơ cứu ở Cần Thơ rồi chuyển ra Vĩnh Phú, Sơn Tây điều trị và cuối cùng về huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An). Sau gần 5 năm điều trị, dưỡng thương, với nguyện vọng trở về với vợ con, cuối năm 1987, ông chính thức được đơn vị cho ra quân.

Điều đáng buồn là do thời gian điều trị kéo dài trong khi ngày ấy, các trạm quân y sử dụng morphine như một loại thuốc giảm đau, gây mê nên ông mắc nghiện vì morphine chính là thuốc phiện, chỉ cần sử dụng liên tục trong khoảng hơn 1 tuần là chắc chắn sẽ nghiện.

Trở về cùng gia đình, cơn nghiện hành hạ ông và gia đình bởi mỗi lần lên cơn là mỗi lần ông quậy phá. Mọi thứ tài sản trong nhà có thể quy đổi ra thuốc phiện đều được ông đem đi cầm cố. Quãng thời gian đen tối ấy ròng rã suốt 15 năm cho đến lúc trong nhà không còn thứ gì để bán và trọng lượng cơ thể chỉ còn 29 kg, không đủ sức để trốn gia đình đi mua thuốc, ông mới chấp nhận lên trại cai nghiện.

Chiến thắng bản thân, tri ân đồng đội, trả nghĩa cuộc đời

Sau những tháng ngày được chữa trị cùng sự động viên của vợ con, Nguyễn Hồng Yên dần cắt được cơn nghiện và lấy lại con người đã bị thứ thuốc độc kia cướp đi. Những ký ức về tháng ngày cùng vào sinh ra tử bên đồng đội ùa về khiến ông ra những giá trị cuộc sống và có những ý định hết sức nhân văn.

Bắt đầu cho những biến chuyển trong cuộc đời ông là chuyến đi tìm mộ những đồng đội hy sinh tại chiến trường năm xưa: “Đã 3 lần tôi tìm về chiến trường cũ để tìm kiếm mộ của các đồng đội trong đơn vị và mộ của anh em trong xóm cùng nhập ngũ đợt đó. Mới đây nhất là chuyến đi tại 3 tỉnh là Hà Tiên, An Giang, Hậu Giang vào hồi cuối năm 2013”.

Cũng vì lo lắng thời gian còn lại không nhiều và không đủ để chuộc lại những lỗi lầm trong 15 năm nghiện ngập, ông còn tranh thủ giúp đỡ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn trong vùng. Đó không chỉ là những món quà vào ngày lễ, tết được trích ra từ phần lương thương binh ít ỏi dành tặng các những gia đình khó khăn mà còn quan tâm, động viên tinh thần để mọi người có thêm động lực vượt khó.

Ông đã trích một phần tiền lương hỗ trợ liên tục suốt 5 năm liền từ 2009-2013 cho gia đình ông bà Phạm Văn Hoá cùng xóm, đều hơn 80 tuổi, cả cuộc đời sống trên thuyền bằng nghề đánh cá, mò hến với hai người con đều bị tật nguyền, phải nương nhờ cha mẹ và chỉ mới lên làng định cư từ năm 2009 sau khi được chính quyền vận động.

Được người thân ủng hộ, ông Yên lại tiếp tục sẻ chia cùng những gia đình có hoàn cảnh khó khăn khác trong vùng. Gần đây nhất, ông Yên nhận bảo trợ một bé gái mồ côi trong xóm. Chia sẻ về câu chuyện này, ông tâm sự: Nhà cháu tuy nghèo nhưng cháu rất chăm chỉ và học giỏi, năm nào cũng được giấy khen của trường. Không may mắn cho cháu là cách đây 2 năm, mẹ cháu mất vì tai nạn giao thông, mới đây thì phát hiện bố cháu bị bệnh gan. Vừa rồi thi xong lớp 9, bố cháu muốn cháu thôi học đi kiếm tiền. Thương cháu nên tôi quyết định làm thủ tục nhận cháu về làm con nuôi để chăm lo cho cháu được ăn học đến khi trưởng thành, coi như là mình trả ơn cuộc đời”.

Chia sẻ về những việc làm đầy ý nghĩa của thươn binh Nguyễn Hồng Yên, ông Nguyễn Văn Dũng - Phó Chủ tịch UBND xã Lạng Sơn, cho biết: Mặc dù chịu thương tật đến 81% và phải sống dựa vào tiền trợ cấp nhưng ông Yên vẫn chia sẻ, giúp đỡ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Những việc làm của ông Yên được địa phương ghi nhận, biểu dương và khuyến khích nhân rộng.

Nguồn Chinhphu.vn


Người cựu binh miệt mài với hành trình đi tìm đồng đội

Bắt đầu công việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đã hơn 30 năm nay nhưng những bước chân của người cựu binh Trần Ngọc Doanh vẫn không ngơi nghỉ. Ông vẫn đau đáu với hành trình tìm kiếm những người đồng đội còn nằm lại ở chiến trường.

Ông Trần Ngọc Doanh - Ảnh: VGP/Lưu Hương
Ông Trần Ngọc Doanh (sinh năm 1950, quê Thanh Hóa, hiện trú tại phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng) cho biết, ông nhập ngũ vào năm tháng 4/1968, đã tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu ở các chiến trường Quân khu 5, Lào, Campuchia.

Lần đầu tiên ông tham gia tìm kiếm mộ đồng đội là vào năm 1985, đến năm 2004, khi nghỉ hưu, ông dành hầu hết thời gian để tham gia “đi tìm đồng đội”.

Do từng công tác, tham gia chiến đấu tại các chiến trường và trực tiếp chôn cất nhiều đồng đội hi sinh trong các trận đánh nên ông vẫn còn nhớ những vị trí đồng đội mình nằm lại. Lúc đầu là cá nhân ông tự đi tìm theo đề nghị của các gia đình, sau đó các đơn vị mời ông cùng tham gia. Không chỉ tìm kiếm mộ đồng đội ở khu vực Quân khu 5, ông còn tham gia sang tận các nước Lào, Campuchia tìm kiếm, quy tập.

Mỗi năm, ông Doanh tham gia tìm kiếm mộ liệt sĩ nhiều nhất là 10 chuyến, có những chuyến chỉ đi trong mấy ngày nhưng cũng có những chuyến đi cả tháng trời. Dù đã tham gia tìm kiếm được hàng trăm mộ nhưng khi nhìn thấy hài cốt của đồng đội lúc nào ông cũng thấy xúc động nghẹn ngào.

Trải qua 30 năm, với ông mỗi chuyến đi là một kỷ niệm khó quên. Một trong những kỷ niệm mà ông nhớ nhất là chuyến đi tìm kiếm mộ của liệt sĩ Ngô Xuân Thu.

Theo nguồn tin của Công binh Hải Vân cung cấp, liệt sĩ Ngô Xuân Thu là người đã ôm khối bộc phá cảm tử hi sinh trong trận đánh ở Hói Mít (Lăng Cô, Thừa Thiên-Huế). Ông Doanh nhiều lần khăn gói đi tìm nhưng không ra. Tuy nhiên, không nản chí, người cựu binh vẫn luôn kiên trì, miệt mài và phải đi đến lần thứ 10, ông mới tìm được mộ của liệt sĩ này.

Tại TP. Đà Nẵng, con đường mang tên liệt sĩ Ngô Xuân Thu là con đường nằm trên địa bàn phường Hòa Hiệp Bắc (quận Liên Chiểu). Tên đường được Đà Nẵng đặt trước khi ông Doanh tìm được mộ liệt sĩ Ngô Xuân Thu.

Nói về hành trình không mỏi trên con đường tìm mộ liệt sĩ, ông Doanh cho hay: Gần nửa thế kỷ trôi qua, được sống trong tình yêu thương của quê hương, gia đình, bạn bè, nhưng nhiều đồng đội vẫn đang nằm đâu đó trong rừng sâu, hài cốt chưa đưa được về với gia đình, điều đó đã thôi thúc tôi “đi tìm đồng đội” với trí nhớ còn đủ để hình dung lần tìm và xác định những lối mòn, địa danh, vật chuẩn, nơi tôi và đồng đội đã chiến đấu. Được sự giúp đỡ của nhân dân, dựa vào bản đồ quân sự, công tác của đồng đội cũ, tôi đến những nơi đồng đội được an táng vội vàng trong những cánh rừng già chiến trường xưa”.

Khi đất nước đã hòa bình, chiến tranh đã lùi về quá khứ, việc đi tìm dấu tích chiến tranh để đưa hài cốt các anh hùng liệt sĩ về với gia đình, quê hương là nhiệm vụ cần thiết, một chính sách lớn của Đảng, Nhà nước nói chung và với cả những người làm công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Với ông Doanh, trong hành trình đi tìm đồng đội, những nơi đã đến đều xa xôi, vất vả và gian khổ, nhưng tình cảm với đồng đội, lời hứa một thời đã giúp ông vượt qua…

Trò chuyện với chúng tôi, được biết, ông vừa trở về nhà sau chuyến tìm kiếm thành công mộ liệt sĩ tại Quảng Trị vào những ngày cận Tết Nguyên đán Canh Tý.

Với những thành tích xuất sắc trong công tác cung cấp thông tin, tìm kiếm quy tập hài cốt liệt sĩ, ông Doanh được Ban Chấp hành Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam tặng bằng khen giai đoạn 2005-2015 và giai đoạn 2014-2018. Năm 2017, cựu chiến binh Trần Ngọc Doanh cũng được Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tặng huy hiệu 45 năm tuổi Đảng.

Nguồn Chinhphu.vn


Người thầy ‘bất đắc dĩ’ và lớp học miễn phí

Suốt gần 10 năm hoạt động, lớp học đặc biệt không có tên gọi ấy chưa từng có giấy khen và cũng không ồn ào, náo nhiệt những tiếng trống khai giảng. Ở đó, ngày ngày, người ta chỉ thấy một ông giáo “bất đắc dĩ” cần mẫn, kiên trì uốn từng nét chữ, chỉ dạy từng phép tính cho những học trò đen nhẻm, gầy gò. Ông là Nguyễn Viết Học (sinh năm 1963), trú tại xã Tân Long, huyện Tân Kỳ, Nghệ An.
Đã gần chục năm qua, thầy giáo “bất đắc dĩ” Nguyễn Viết Học vẫn luôn dành trọn thời gian và tâm huyết cho lớp học của mình. Ảnh: VGP/Thuỷ Lợi

Vạn sự bởi duyên

Trời vừa nhá nhem tối, trong ngôi nhà cấp 4 ở xã Tân Long, huyện Tân Kỳ đã lanh lảnh tiếng giảng bài của “thầy giáo” Nguyễn Viết Học. Đã gần 10 năm nay, cứ tối đến là những học sinh trong xã lại vai mang cặp, tay ôm sách, kéo về lớp học miễn phí của thầy Học. Người lạ mới đến chắc chắn đều lầm tưởng đây là lớp học thêm ngoài giờ của một giáo viên nào đó. Nhưng người thầy đặc biệt này lại là cán bộ xã tranh thủ thời gian, mở lớp phụ đạo cho con em trong vùng.

Trong một không gian được tận dụng từ hai gian nhà cũ, thầy Học kê chừng chục bộ bàn ghế cùng chiếc bảng gắn trên tường để làm nơi giảng bài. Đôi bóng đèn ne-on bật sáng trưng rọi rõ từng nét phấn trên chiếc bảng cũ kỹ. Gần ba chục em chăm chú dõi theo những vạch phấn mà thầy giáo đang tỉ mẩn vạch trên bảng giải bộ đề Toán kỳ thi THCS vừa diễn ra.

Điều tạo nên ấn tượng đầu tiên khi đặt chân vào lớp chính là hình ảnh về thầy giáo với dáng người cao, tóc điểm bạc, trong bộ áo lính còn nguyên nếp gấp, nước da rám nắng và đôi mắt hiền lành sau cặp kính cũ. Chất giọng lính khoẻ khoắn, rõ từng tiếng một khiến bất cứ ai ngồi nghe cũng cảm thấy như được “nuốt” trọn từng con chữ.

Đến giờ nghỉ lao, thầy Học mới tranh thủ kể về mình. Thầy vốn quê ở huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị); năm lên ba tuổi thì chẳng may bố qua đời để lại gánh nặng chăm lo các con cho người mẹ nghèo. Năm 1969, mấy mẹ con sơ tán về huyện Tân Kỳ (Nghệ An) rồi định cư luôn ở đây. Sau  3 năm tham gia quân ngũ (từ 1981 đến 1984), thầy trở về tiếp tục theo đuổi nghiệp đèn sách. Nhưng gánh nặng cơm áo khiến việc học hành nhiều lần phải dang dở. Mãi sau này, thầy mới được vào Trường Trung cấp Thương mại rồi về làm cán bộ tài chính ở địa phương cho đến ngày nay.

Công việc sổ sách và những con số luôn bận rộn, nhưng qua nhiều lần trò chuyện với các em học sinh trong vùng, thầy nhận thấy kiến thức các em bị hổng quá nhiều cùng một tỉ lệ lớn học sinh thi trượt cấp 3. Bên cạnh đó, có những học sinh nghèo không có điều kiện theo học phải tha hương kiếm tiền rồi sa vào các tệ nạn xã hội. Những điều này khiến thầy trăn trở và suy nghĩ cần tạo ra một không gian vừa để học kiến thức, vừa để rèn đức cho các em.

Nghĩ là làm, đầu năm 2008, thầy tới từng gia đình có con em đang học cấp 2 trong làng để trình bày ý tưởng, rồi tới trường học đề xuất nguyện vọng với giáo viên của các em có lực học yếu. Ban đầu, nhiều phụ huynh bất ngờ, cho rằng ông nói đùa vì một người chưa từng đứng trên bục giảng, lại chẳng có chút kiến thức sư phạm thì làm sao có thể dạy học cho các cháu được. Nhưng sau nhiều lần giải thích và bỏ ngoài tai những lời đàm tiếu, lớp học vẫn được thầy mở ra với 6 em đang học lớp 9.

Từ đó, ban ngày, thầy đến trụ sở UBND xã làm việc, tối về nhà giúp các em ôn luyện. Ghi nhận thành công ban đầu của người thầy “bất đắc dĩ” là cả 6 em đều thi đỗ vào cấp 3. Kể từ đây, tiếng tăm của thầy Học bắt đầu lan ra. Bà con trong làng xã tìm đến gửi con học, số lượng tăng nhanh, từ chỉ nhận kèm các em lớp 9 ôn thi lên lớp 10, nay thầy mở thêm các lớp từ 6 đến 9 và phân lịch dạy cụ thể cho từng nhóm một. Mùa trước tiếp nối mùa sau, các thế hệ học sinh cứ dần tìm về thầy ngày một đông. Nhiều phụ huynh ở cách vài chục cây số cũng nghe mà tìm đến gửi gắm con cho thầy. Nhiều cháu có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thầy cho ăn ở tại nhà mà không đỏi hỏi bất cứ một xu nào.

Chia sẻ về những ý tưởng ban đầu, thầy Học kể: "Ngày xưa tôi mơ ước trở thành thầy giáo dạy toán nên việc mở lớp này cũng là tâm nguyện lâu nay của bản thân tôi. Tuy không qua đào tạo chuyên môn như các thầy cô ở trường nhưng với kiến thức có sẵn từ thời đi học, và nghiên cứu sách giáo khoa, cập nhật trên mạng internet kiến thức các môn Văn, Toán, Lý, Hóa..., tôi cố gắng truyền đạt đơn giản nhưng vẫn bảo đảm kiến thức chuẩn. Nhiều lần gặp phải những kiến thức mới, ngoài hiểu biết của mình, tôi lại lên mạng tra cứu thêm hoặc gọi điện hỏi các thầy cô giáo ở các trường trong vùng...".

Sau gần 10 năm gắn bó với công việc dạy học, đến nay, đã có hàng nghìn lượt học sinh được thầy Học kèm cặp, phụ đạo kiến thức. Nhiều học sinh trong xã được thầy Học phụ đạo thi đỗ cấp 3 và có cả những em đỗ vào các trường chuyên. Nhiều học sinh lực học yếu đã vươn lên, cải thiện được thành tích học tập.

Thầy Nguyễn Viết Học và các học trò của mình. Ảnh: VGP/Thủy Lợi

“Làm người thì phải học cả tài và đức”

Đối với thầy Học, để có thể trở thành công dân có ích cho xã hội thì mỗi học sinh không chỉ cần tài năng, trí tuệ mà song song với đó còn là đạo đức, nhân cách. Vì vậy mà ở lớp học đặc biệt này, thầy Học không chỉ truyền dạy những kiến thức trong sách vở mà còn cố gắng rèn luyện đạo đức cho từng em học sinh. Đó không hẳn là những lễ nghi, phép tắc trong giao tiếp, ứng xử, thái độ đối với mọi người xung quanh mà còn là những hành động, việc làm hướng tới cộng đồng.

“Ở lớp học, ngoài việc dạy kiến thức sách vở, tôi luôn quan tâm đến nhân cách con người. Cũng bởi từng là lính nên tác phong, đạo đức của Bác Hồ luôn được tôi lấy làm gương cho mình. Đồng thời, với tinh thần cho đi sẽ nhận lại, tôi cùng các em lập quỹ từ thiện bằng việc đi nhặt ve chai, mót lạc, bớt một phần tiền ăn sáng... để mỗi tháng, cả lớp góp được một khoản tiền chia sẻ cùng các gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Hơn 3 năm phát động, đến nay, lớp học đã gom được số tiền 17 triệu đồng”, thầy Học chia sẻ.

Ngoài việc kêu gọi các em gây quỹ từ thiện, bản thân thầy cũng là một tấm gương về điều đó. Thầy không những không thu tiền học phí của các em đến học tại lớp, nhiều em có hoàn cảnh khó khăn còn được thầy nuôi ăn ở trong nhà. Vừa qua, thầy còn nhận hỗ trợ học phí cho 3 em hiện đang theo học tại trường THPT Lê Lợi (huyện Tân Kỳ) với thời gian 3 năm.

Để động viên, khuyến khích tinh thần học tập của lớp, thầy Học còn trích tiền túi thưởng cho những em có lực học tốt, hay có hoàn cảnh khó khăn. Cảm phục trước việc làm của thầy, nhiều phụ huynh tỏ ý muốn sẻ chia gánh nặng nhưng thầy đều từ chối.

"Tôi chỉ có một trăn trở là lớp học ngày càng đông, mà cơ sở vật chất và phòng học quá chật, thời gian không đủ để phục vụ các cháu", thầy Học chia sẻ.

Ông Nguyễn Văn Tình, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Long cho biết, việc thầy Nguyễn Viết Học mở lớp dạy miễn phí cho các cháu trong xã rất được các cấp chính quyền địa phương quan tâm, ủng hộ. Mặc dù dành nhiều công sức cho việc dạy thêm, nhưng dù ở vị trí Hội trưởng Hội Khuyến học xã Tân Long hay là cán bộ tài chính của xã Nghĩa Thái, thầy Học vẫn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công.

Nguồn Chinhphu.vn

Người thương binh hơn 50 năm sưu tầm tư liệu về Bác

Chỉ một lần được trông thấy Bác từ xa nhưng với tấm lòng tôn kính và ngưỡng mộ vị lãnh tụ có phong thái giản dị, gần gũi, hàng chục năm qua, người thương binh 4/4 Phạm Ngọc Bỉnh đã dày công tìm kiếm, sưu tầm hàng nghìn bức ảnh, bài báo cùng hàng chục cuốn sách viết về thân thế và sự nghiệp của Người.

 

Ông Phạm Ngọc Bỉnh bên gian trưng bày tư liệu của mình. Ảnh: VGP/Thuỷ Lợi

Một lần được gặp Bác

Một ngày giữa tháng 5, chúng tôi tìm đến nhà ông Phạm Ngọc Bỉnh (sinh năm 1936, trú tại xóm 6, xã Lạng Sơn, huyện Anh Sơn, Nghệ An) để tận mắt xem kho tư liệu có một không hai với hàng nghìn bức ảnh, bài báo và hàng chục cuốn sách viết về thân thế và sự nghiệp của Bác.

Nằm giữa lưng chừng ngọn đồi nơi miền Tây xứ Nghệ, ngôi nhà cấp bốn nhỏ nhắn nhưng sạch sẽ và gọn gàng của người thương binh già cho tôi một cảm nhận về một con người học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Kể về cơ duyên dẫn mình đến với đam mê sưu tập tư liệu về Bác, ông Bỉnh hồi tưởng về những ngày đầu viết đơn xin đi bộ đội của mình.

Cũng như nhiều thanh niên khác ở giai đoạn đó, trong hoàn cảnh đất nước chiến loạn, hưởng ứng lời kêu gọi của Tổ quốc, năm 24 tuổi, ông khăn gói lên đường. Nhập ngũ, ông được phân bổ về Tiểu đoàn 25 công binh thuộc Tỉnh đội Nghệ An, đóng quân ở Nam Đàn. Chính những năm tháng công tác ở đơn vị này, ông và đồng đội may mắn gặp Bác Hồ, rồi cái duyên đưa ông đến với niềm đam mê sưu tầm tư liệu về Bác từ đó.

Nhớ lại ngày được gặp Bác, ông Bỉnh kể: “Hôm đó là một ngày cuối năm 1961. Khi cấp trên thông báo sẽ chọn 10 đồng chí có sức khỏe, phẩm chất chính trị tốt, giỏi chuyên môn để Tiểu đoàn giao cho một nhiệm vụ đặc biệt, cả Đại đội ai cũng hồi hộp vì không biết ai được chọn và chọn để đi làm nhiệm vụ bí mật gì. Lúc biết mình được chọn, ông không khỏi hồi hộp, lo lắng...

Mãi cho đến giờ giao nhiệm vụ, Tiểu đoàn trưởng mới nói: “Để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho Bác Hồ về thăm quê lần thứ 2, cấp trên yêu cầu đơn vị chọn 10 cán bộ, chiến sĩ công binh tiến hành rà phá bom mìn, vật liệu nổ tại xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành và xã Kim Liên, huyện Nam Đàn. Thời gian làm rất gấp, khối lượng công việc nhiều, đề nghị các đồng chí làm việc tích cực, khẩn trương. Đây là vinh dự rất lớn nhưng trách nhiệm cũng rất nặng nề, vì thế chỉ huy đơn vị yêu cầu các đồng chí thực hiện với quyết tâm cao nhất”.

Đến lúc này, khi đã rõ nhiệm vụ, ai nấy đều vô cùng sung sướng và hạnh phúc bởi mong ước được gặp Bác Hồ từ lâu nay sắp thành hiện thực. Và cũng từ điều đó, trong toàn đơn vị dấy lên phong trào thi đua “Làm ngày chưa đủ, tranh thủ làm đêm”, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bảo đảm an toàn tuyệt đối lúc Bác về thăm quê.

Thời gian Bác về thăm quê chẳng được nhiều nhưng mỗi cử chỉ, lời nói, lời dặn dò, nhắc nhở của Bác đều được anh em trong đơn vị ghi nhớ vào tâm.

Cho đến khi Bác trở lại Thủ đô, sự kiện Người về thăm quê lần thứ 2 được đăng trên báo Quân đội nhân dân, các chiến sĩ trong đơn vị chuyền tay nhau tờ báo. Rồi ngay lúc ấy, không đắn đo, cân nhắc, ông Bỉnh xin lại tờ báo rồi dùng kéo cẩn thận cắt riêng tấm ảnh Bác về thăm quê để làm kỷ niệm. Và cũng từ đó, trong ông dấy lên niềm đam mê sưu tầm các tấm ảnh, bài báo viết về Bác.

Về sau, trong quá trình công tác ở địa phương, hễ nghe ai có hình ảnh, sách, báo viết về Bác là ông lại cất công đến tận nơi xin bằng được, còn nếu không xin được thì ông sao chép lại hoặc mua tài liệu ấy...

Được người thân và bè bạn ủng hộ, việc làm của ông được đồn đi khắp nơi. Chính vì thế, nhiều người hiểu được tấm lòng của ông mà đem gửi tặng các tư liệu. Người ở gần thì tận tay mang đến tặng còn người ở xa thì hỏi địa chỉ rồi gửi qua đường bưu điện.

Trong gian trưng bày của ông Bỉnh, có một góc dành cho tư liệu về những vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội... qua các thời kỳ. Ảnh: VGP/Thủy Lợi

'Nhớ rằng có Bác, bây giờ có ta'

Hơn nửa cuộc đời miệt mài theo đuổi đam mê, đến nay, ông Bỉnh đã có được gian trưng bày với tư liệu rất phong phú về thân thế, sự nghiệp của Bác. Những tư liệu về Bác được ông phân loại theo từng thời kỳ và được bảo quản trong các khung ảnh và tủ kính theo một trật tự cụ thể và ngăn nắp. Mỗi khung ảnh đều được ông đánh số thứ tự và ghi chú một cách tỉ mỉ, chi tiết…

Bên cạnh những bức ảnh, bài báo viết về Bác, ông Bỉnh còn sưu tầm hàng chục đầu sách viết về Bác theo từng giai đoạn từ thời niên thiếu đến khi Bác ra đi tìm đường cứu nước, giai đoạn thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam cho đến khi Bác làm Chủ tịch nước.

Và như chưa thoả niềm đam mê, ngoài tư liệu về Bác, ông Bỉnh còn sưu tầm tư liệu về Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đặc biệt là gian tư liệu về những vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quân đội và Quốc hội qua các thời kỳ.

Mới đây nhất, dựa trên những thông tin, tư liệu có được, ông còn tự mình viết thành sách với hàng chục cuốn về hoạt động của Bác, về quá trình xây dựng Đảng...

Chia sẻ về niềm đam mê của mình, ông cho biết, kể từ ngày ông tiến hành sưu tập cho đến nay đều được vợ và các con ủng hộ.

Khi được hỏi về việc chính quyền địa phương muốn ông chuyển nhượng để đem trưng bày ở khu nhà văn hoá của xã nhưng ông Bỉnh chỉ cười rồi nói: “Việc đem những tư liệu này đi trưng bày ở đâu không quan trọng mà cái chính là phải bảo quản được nó, để không bị thời gian làm hư hỏng. Việc đưa ra ngoài xã là tốt nhưng ở nơi tài sản của tập thể rất khó mà gìn giữ được...".

Ông cũng cho biết từ lâu nay, nhiều người biết tin thường ghé thăm, tìm hiểu "thư viện Bác Hồ" của ông, kể  cả các cháu học sinh trong vùng. Nhiều người cao tuổi thi thoảng lại về nhà ông cùng uống trà, ngâm thơ, kể chuyện về Bác...

Kết thúc câu chuyện với chúng tôi, ông Bỉnh giở cuốn sổ nhỏ ra rồi đọc một bài thơ có tựa đề “Suy ngẫm”, cũng là những dòng tâm tư và lời nhắc nhở, răn dạy con cháu của ông phải biết gìn giữ kho tư liệu quý báu mà ông để lại.

“Còn trời, còn nước, còn non,

Còn Đảng Cộng sản tôi còn đam mê.

Sưu tầm ảnh Bác đem về,

Vào khung cất giữ trọn bề thành tâm.

Đời cha trước, đời con sau,

Muôn đời cháu chắt chung nhau phụng thờ.

Khuyên nhau không được thờ ơ,

Nhớ rằng có Bác, bây giờ có ta”.

Nguồn Chinhphu.vn