Cá robot giúp thám hiểm đại dương

Cá robot do các nhà khoa học tại Đại học Havard (Mỹ) chế tạo có thể bơi theo đàn mà không cần điều khiển từ bên ngoài.

Mạng 6G: Xu thế của tương lai

Giới chuyên môn cho rằng , công nghệ mạng 6G sẽ là một cuộc cách mạng lớn so với các thế hệ mạng trước đó, có thể biến các mạng di động ở các quốc gia trở thành một mạng di động duy nhất trên toàn thế giới, như cách chúng ta đã từng biến các mạng di động của các tỉnh, thành phố trở thành một mạng di động của quốc gia.
Lịch sử phát triển của mạng di động
Theo chu kỳ, mỗi thế hệ mạng mới thường được triển khai sau mỗi 10 năm, mạng 6G được dự đoán sẽ được đưa vào khai thác thương mại vào năm 2030.

Hiện tại, chỉ một số ít người dùng trên thế giới được sử dụng mạng 5G, còn phần lớn vẫn đang sử dụng mạng 4G hoặc 3G, tuy nhiên đã khá nhiều nước bắt đầu chuẩn bị cuộc đua về công nghệ mạng 6G. Vậy công nghệ mạng 6G là gì?

Băng thông tốc độ cao, độ phủ khắp nơi và thông minh hơn

Trong khi tốc độ mạng 5G đạt tới 20 Gbps thì mạng 6G hướng tới tốc độ Tegabit (Tbps) nhanh hơn cỡ vài trăm đến vài nghìn lần mạng 5G. Tuy nhiên, mục tiêu của mạng 6G không phải chỉ ở tốc độ, mà còn nhằm giải quyết các vấn đề còn tồn tại của mạng 5G và hướng tới giải quyết các yêu cầu của tương lai.

Mục tiêu của mạng 5G là gắn kết tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội, nhằm xây dựng hệ sinh thái thông tin mà trung tâm là người dùng. Nhưng do hạn chế về công nghệ, mạng 5G vẫn còn nhiều giới hạn về truyền thông như độ cao, độ sâu, độ rộng. Mặc dù được coi là mạng của Internet vạn vật (IoT) nhưng mạng 5G vẫn còn khoảng cách khá xa để đạt được tính phổ quát khắp nơi (ubiquitous). Về không gian truyền thông, mạng 5G hạn chế truyền thông trong độ cao cỡ vài nghìn mét so với mặt đất và ở độ sâu dưới mặt đất, mặt biển.

Mục tiêu của mạng 6G là giải quyết các hạn chế của mạng 5G, hướng tới khả năng kết nối không gian-khí quyển-mặt đất-dưới biển. Bốn định hướng chính về kết nối đang được nghiên cứu là: Kết nối thông minh (Intelligent Connectivity), kết nối sâu (Deep Connectivity), kết nối không đồng nhất (Holographic Connectivity) và kết nối khắp nơi (Ubiquitous Connectivity).

Hiện đang có khá nhiều công nghệ tiềm năng, kể cả các công nghệ của tương lai được xem xét đưa vào mạng 6G như truyền thông không dây quang, truyền thông lượng tử, thiết bị bay không người lái, vệ tinh tầng thấp… các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu lớn cũng được đưa vào hỗ trợ mạng 6G nhằm bảo đảm các mục tiêu về chất lượng mạng (QoS).

Các ứng dụng tiềm năng

Trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ được tích hợp vào hệ thống mạng 6G. Tất cả các thành phần mạng như các thiết bị vật lý, xử lý tín hiệu, quản lý tài nguyên, dịch vụ kết nối sẽ được hợp nhất và quản lý sử dụng AI. Nhờ đó, các vấn đề như chuyển đổi số, công nghiệp 4.0 sẽ được thúc đẩy phát triển. Một số viễn cảnh của các ứng dụng tiềm năng của mạng 6G bao gồm:

Xã hội siêu thông minh (Super-Smart society): Nhà thông minh sẽ được triển khai rộng rãi khi các thiết bị thông minh đều có khả năng kết nối và điều khiển từ xa. Giao thông thông minh với hệ thống điều khiển, xe tự hành, taxi bay có thể được triển khai dựa trên công nghệ mạng 6G. Thành phố thông minh được xây dựng dựa trên các hệ thống giám sát môi trường, hệ thống điều khiển tối ưu năng lượng nhằm nâng cao mức sống của người dân.

Internet của mọi thứ (Internet of Everything - IoE): Mạng 6G ngoài việc đảm bảo kết nối với số lượng lớn các thiết bị như máy tính, sensor và mọi loại thiết bị vật lý, còn bảo đảm tích hợp 4 thành phần quan trọng là dữ liệu, con người, quy trình và thiết bị vật lý thành một thể thống nhất. IoE sẽ là thành phần quan trọng để xây dựng xã hội thông minh bao gồm ô tô thông minh, công nghiệp thông minh, sức khoẻ thông minh.

Thực tại ảo mở rộng (Extended reality - XR): XR là bước tiếp theo của thực tại ảo (VR), thực tại ảo tăng cường (AR) và thực tại ảo hỗn hợp (MR). Ngoài việc các đối tượng được mô phỏng 3D và điều khiển AI, trải nghiệm người dùng sẽ được hỗ trợ bởi cả 5 giác quan nghe, nhìn, khứu giác, vị giác, xúc giác thông qua các sensor. Với băng thông tốc độ và ổn định cao, độ trễ thấp, mạng 6G sẽ bảo đảm chất lượng của trải nghiệm người dùng.

Giao diện bộ não và máy tính (The Brain-Computer Interface - BCI): Nhằm mục tiêu điều khiển thiết bị đặc biệt các thiết bị trong nhà hoặc trong hệ thống y tế, BCI sẽ thu nhận các tín hiệu từ bộ não và chuyển đến các thiết bị số, phân tích và diễn dịch tín hiệu thành các lệnh điều khiển thiết bị. Các đặc tính của truyền thông không dây của mạng 6G cho phép thiết lập hệ thống BCI trong cuộc sống hằng ngày.

Mạng 6G sẽ có thay đổi đột phá về mặt kiến trúc với thành phần như sau:

Tích hợp mạng vệ tinh: Cho phép mạng 6G khả năng di động toàn cầu. Việc tích hợp mạng mặt đất, mạng vệ tinh, vệ tinh quỹ đạo tầm thấp, máy bay, thiết bị bay không người lái trở thành hệ thống mạng di động duy nhất là một đặc tính nổi trội của mạng 6G. Việc tích hợp các thiết bị truyền thông ở các tầng không gian khác nhau sẽ xây dựng thành mạng siêu kết nối 3D khắp nơi, bao gồm vũ trụ-không gian-mặt đất-dưới biển.

Kết nối thông minh: Là một tiêu chuẩn mới của mạng 6G so với các mạng di động thế hệ trước. Mạng 6G sẽ chuyển đổi và nâng cấp kết nối thông thường thành kết nối thông minh. Công nghệ AI sẽ được thâm nhập, trải khắp trong quá trình truyền thông, điều khiển và quản lý các tầng mạng.

Tích hợp truyền thông tin và năng lượng: Mạng 6G không chỉ cho phép truyền thông tin mà còn truyền năng lượng không dây nhằm sạc các thiết bị, như điện thoại di động, các sensor. Các công nghệ truyền năng lượng không dây (Wireless power transfer - WPT) sẽ được tích hợp vào hệ thống.

 

Mô hình kiến trúc mạng 6G

Xu thế trên thế giới

Mạng 6G hứa hẹn sẽ số hoá và kết nối toàn thế giới. Nhiều nước đã sẵn sàng cho cuộc đua về nghiên cứu triển khai công nghệ mạng 6G.

Điển hình như Hoa Kỳ: Ủy ban truyền thông liên bang (Federal Communications Commission FCC) cung cấp giấy phép cho các thử nghiệm dải tần từ 95 GHz tới 3 THz. Hội Kỹ sư điện và điện tử (IEEE) và Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) thực hiện các nghiên cứu định hướng cho công nghệ mạng tương lai. Tháng 8 năm 2020, SpaceX vừa phóng vệ tinh Starlink lần thứ 9 nâng tổng cộng khoảng 600 vệ tinh lên quỹ đạo, và bắt đầu thử nghiệm cung cấp dịch vụ Internet vệ tinh ở khu vực Canada và Bắc Mỹ. Nhằm thực hiện tham vọng phủ sóng Internet trên toàn cầu từ vệ tinh, SpaceX sẽ phóng lên quỹ đạo khoảng 12.000 vệ tinh ở độ cao từ 335 km đến 1.325 km. Đến nay, có gần 20 công ty/tập đoàn lớn phát triển chùm vệ tinh.

Phần Lan: Được thực hiện bởi Đại học Oulu, các thử nghiệm mạng 6G bắt đầu được thực hiện từ năm 2018.

Châu Âu (EU): Dự án EU’s Terranova project hướng tới kết nối trên mạng 6G với tốc độ 400 Gbps ở dải tần terahertz.

Hàn Quốc: Tập đoàn LG và Viện Nghiên cứu KAIST hợp tác xây dựng trung tâm nghiên cứu về công nghệ mạng 6G. Tập đoàn Samsung và SK Telecom cùng hợp tác để phát triển công nghệ và mô hình kinh doanh trên mạng 6G.

Trung Quốc: Bộ KH&CN lên kế hoạch với hai nhóm phát triển mạng 6G: Nhóm thứ nhất thuộc Chính phủ Trung Quốc nhằm xây dựng các chính sách thúc đẩy việc nghiên cứu và phát triển mạng 6G; nhóm thứ hai là tập hợp của 37 trường đại học, viện nghiên cứu và công ty tập trung phát triển mảng kỹ thuật của mạng 6G.

Nhật Bản: Chính phủ Nhật Bản đã sẵn sàng 2 tỷ USD hỗ trợ cho doanh nghiệp trong nghiên cứu công nghệ mạng 6G. Tập đoàn NTT và Intel đã ký thỏa thuận hợp tác cùng phát triển mạng 6G.

Chia sẻ tại Hội thảo khoa học “Xu thế phát triển, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thông tin, tự động hóa, robot và vật lý” sáng 26/11 tại Hà Nội, PGS.TS. Phạm Thanh Giang, Phó Trưởng khoa Công nghệ thông tin và Viễn thông, Viện Công nghệ thông tin (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) cho biết, trong việc triển khai các thế hệ mạng di động, Việt Nam thường đi sau thế giới từ 7-10 năm đối với các mạng di động 2G, 3G, 4G. Đối với mạng 5G, chúng ta đã thực hiện các thử nghiệm từ năm 2019, kỳ vọng đưa Việt Nam vào các nhóm nước đầu tiên trên thế giới triển khai mạng 5G, sau các nước như: Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Australia.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn khoảng cách khá xa so với thế giới về năng lực nghiên cứu và triển khai trong lĩnh vực viễn thông bởi thời gian từ việc triển khai thử nghiệm đến khai thác thương mại thường kéo dài trung bình đến 5 năm đối với các mạng di động thế hệ trước.

Đối với mạng 6G, các nước hiện nay đều có cơ hội như nhau về mặt thời gian để có thể dẫn đầu về nghiên cứu, triển khai mạng 6G, nhưng không phải nước nào cũng đủ năng lực về khoa học và công nghệ cũng như tài chính để tham gia cuộc đua ngay từ thời điểm này.

Việt Nam sẽ có nhiều hạn chế nếu tham gia các lĩnh vực yêu cầu đầu tư tốn kém như dự án vệ tinh, các dự án sản xuất chip cho các thiết bị truyền thông THz, truyền thông quang nhưng chúng ta cũng có khá nhiều thế mạnh trong các hướng tham gia sau: Nghiên cứu và sản xuất các thiết bị đầu cuối 6G; Nghiên cứu chuyên sâu trong việc tối ưu, điều khiển trong hệ thống mạng 6G; Nghiên cứu công nghệ AI cho hệ thống quản trị, xử lý dữ liệu trong hệ thống mạng 6G; Nghiên cứu các bài toán an toàn, bảo mật blockchain để giải quyết bài toán an toàn trong hệ thống mạng mới.

Nguồn Chinhphu.vn

Cần thêm các quyết sách về KHCN phát triển công nghiệp vật liệu

Năm 1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10 về Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp đưa ra những chủ trương làm thay đổi cơ bản diện mạo của nông nghiệp nước nhà. Có lẽ chúng ta đang cần một nghị quyết như vậy cho KHCN nói chung, trong đó có KHCN về vật liệu.

Ông Cao Đức Phát, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: VGP Thu Giang

Đó là ý kiến của ông Cao Đức Phát, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương tại Hội thảo “Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển công nghiệp vật liệu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” do Ban Kinh tế Trung ương phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đồng tổ chức sáng 25/11.

Các ý kiến tại Hội thảo đều cho rằng ngành công nghiệp vật liệu có vai trò rất quan trọng cho phát triển công nghiệp quốc gia. Tuy nhiên, các loại vật liệu sản xuất trong nước chưa thực sự trở thành nguồn nguyên vật liệu đầu vào chính cho các ngành công nghiệp sản xuất, cũng như chưa đáp ứng được các mục đích sử dụng khác cho phát triển kinh tế - xã hội.

Đến nay Đảng ta chưa có một nghị quyết hoặc kết luận tổng thể lãnh đạo về phát triển ngành công nghiệp vật liệu. Trước yêu cầu phát triển công nghiệp quốc gia cho giai đoạn mới, trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng với việc thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng như sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đòi hỏi cần phải có cách tiếp cận và tư duy mới về phát triển công nghiệp vật liệu.

Từ đó, cần thiết phải nghiên cứu, xây dựng Đề án “Phát triển công nghiệp vật liệu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” để trình Bộ Chính trị ban hành các quyết sách lãnh đạo phát triển ngành công nghiệp vật liệu đất nước trong thời gian tới.

Giải bài toán khó

Ông Cao Đức Phát, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương cho rằng, khi thị trường thế giới có biến động, như đại dịch COVID-19, nhiều doanh nghiệp dựa chủ yếu vào nguyên liệu nhập khẩu gặp khó khăn.

“Để xây dựng một nền kinh tế cạnh tranh hiệu quả, tự chủ, phải tự chủ tối đa nguyên vật liệu, nhưng phải là nguyên vật liệu bằng hoặc tốt hơn về chất lượng và rẻ hơn so với nhập khẩu. Muốn đạt được điều đó, trước hết cần có quyết tâm chính trị cao và rõ ràng khoa học công nghệ phải đi trước, mở đường. Tuy nhiên cần phải có tổ chức và cách làm phù hợp”, ông Cao Đức Phát nhấn mạnh.

Nước ta có tài nguyên phong phú, nhưng tài nguyên phải được khai thác đúng đắn. KHCN trước hết cần tập trung nghiên cứu phát triển các loại vật liệu trên cơ sở phát huy các nguồn tài nguyên nước ta sẵn có. Nước ta có trữ lượng bauxite, volfram, titanium… rất lớn, nhưng phải tìm ra công nghệ khai thác và chế biến hiệu quả hơn thì mới có thể phát huy, làm giàu cho quốc gia.

Nước ta không có lợi thế để trồng bông, nhưng ngành dệt may dù phải nhập khẩu nguyên vật liệu vẫn đang có lợi thế cạnh tranh khi giá nhân công còn rẻ. Về lâu dài, lợi thế về nhân công giá rẻ sẽ mất dần. Ngành cần phải tìm ra các loại nguyên liệu thay thế cạnh tranh từ nguồn thực vật phong phú của xứ sở nhiệt đới.

Trong khi nhiều loại nông sản của nước ta xuất thô hoặc mới chỉ qua sơ chế, phần lớn vật tư như phân bón, nguyên liệu làm thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, máy móc nông nghiệp phải nhập khẩu. Điều đó làm ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh và hiệu quả của ngành. Như vậy, phải chăng KHCN cũng cần phải chú trọng nghiên cứu phát triển vật liệu phục vụ ngành lợi thế của đất nước.

Theo ông Cao Đức Phát, Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn cho KHCN, trong đó có KHCN về công nghiệp vật liệu. Tuy nhiên, cần bàn về cơ chế và chính sách để nguồn lực của Nhà nước được sử dụng có hiệu quả hơn. Cần có cơ chế để phát triển và phát huy cao năng lực của đội ngũ những người làm khoa học ở các viện nghiên cứu, đồng thời tạo điều kiện để cả xã hội, trước hết là cộng đồng các doanh nghiệp tham gia. Có như vậy mới tạo nên sức mạnh quốc gia bền vững.

Sức mạnh ấy phải được xây dựng trên nền tảng phát triển năng lực nghiên cứu và chuyển giao KHCN trong nước, đồng thời tiếp thu và phát triển tri thức của thế giới cho phù hợp với điều kiện của đất nước.

Bộ trưởng Bộ KH&CN Huỳnh Thành Đạt phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: VGP Thu Giang

KHCN: Khâu theo chốt để phát triển công nghiệp vật liệu

Nhấn mạnh việc làm chủ công nghệ sản xuất vật liệu là nền tảng cơ bản nhất để làm chủ sản xuất công nghiệp, Bộ trưởng Bộ KH&CN Huỳnh Thành Đạt cho rằng tất cả các quốc gia trên thế giới đều tập trung nguồn lực để phát triển các vật liệu có giá trị chiến lược nhằm tạo lợi thế cạnh tranh và nâng cao giá trị gia tăng cho sản xuất.

Hiện nay, năng lực sản xuất của công nghiệp vật liệu nước ta vẫn còn nhỏ, năng suất và chất lượng còn nhiều hạn chế do đó phát triển ngành công nghiệp vật liệu càng là một đòi hỏi tất yếu để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo báo cáo của Bộ Công Thương, vật liệu gang chế tạo đạt dưới 30%; vật liệu nhôm, vật liệu đồng khoảng 5%; hóa chất cho ngành nhựa, cao su vẫn phải nhập khẩu đến 70%; nguyên liệu cho ngành dệt may phải nhập khẩu gần 90% vải, 80% sợi...

Trong hoạt động khoa học và công nghệ, công nghệ vật liệu mới luôn được xác định là hướng nghiên cứu ưu tiên, được thể hiện nhất quán trong các văn kiện của Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ như: Nghị quyết số 20- NQ/TW; Quyết định 418/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020...

Thực hiện chủ trương của Đảng và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ KH&CN luôn chủ động, tích cực phối hợp với các bộ, ngành liên quan đẩy mạnh hoạt động KHCN và đổi mới sáng tạo để góp phần phát triển kinh tế - xã hội nói chung và lĩnh vực công nghiệp vật liệu nói riêng.

Bộ KH&CN đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển riêng về vật liệu đã có 16/58 công nghệ ưu tiên (chiếm 27,5% tổng số) và 19/114 nhóm sản phẩm (chiếm 16,6% danh mục sản phẩm khuyến khích phát triển).

Trong hoạt động nghiên cứu, công nghệ vật liệu mới luôn được xác định là một trong 4 công nghệ cao được ưu tiên cùng với công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, và công nghệ tự động hoá. Từ năm 2001 đến nay, Bộ KH&CN đã bố trí riêng 01 Chương trình KH&CN trọng điểm cấp quốc gia về nghiên cứu, ứng dụng và phát triển vật liệu mới. Bên cạnh đó, các nội dung nghiên cứu, ứng dụng vật liệu cũng đã được ưu tiên lồng ghép trong các Chương trình KH&CN cấp quốc gia khác.

Thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đã hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp tăng cường tiềm lực, nâng cao trình độ cán bộ nghiên cứu trong lĩnh vực vật liệu, cập nhật được các công nghệ mới, tiên tiến của các nước phát triển. Nhiều tổ chức, doanh nghiệp trong nước làm chủ công nghệ, chế tạo thành công nhiều chủng loại vật liệu mới từ nguồn nguyên liệu trong nước với chất lượng tương đương với sản phẩm nhập ngoại, đáp ứng một phần nhu cầu của các ngành sản xuất và góp phần bảo đảm quốc phòng an ninh.

Bên cạnh việc hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, Bộ KH&CN còn quan tâm hỗ trợ phát triển công nghiệp vật liệu thông qua hoạt động tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và sở hữu trí tuệ. Giai đoạn 2011-2020 đã công bố 2.069 TCVN với tỉ lệ hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế xấp xỉ 72%, 50 QCVN; đã có 6.031 bằng độc quyền sáng chế; 348 bằng độc quyền giải pháp hữu ích; 20.705 giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu trong lĩnh vực vật liệu…

Mặc dù đạt được một số kết quả, nhưng theo TS. Nguyễn Đình Hậu, Vụ trưởng Vụ Khoa học và công nghệ các ngành kinh tế - kỹ thuật (Bộ KH&CN), hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ lĩnh vực vật liệu đang gặp phải một số tồn tại, hạn chế như: Đa số các kết quả nghiên cứu mới dùng ở quy mô nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn, đặc biệt là các doanh nghiệp đa quốc gia có vai trò dẫn dắt thị trường; một số doanh nghiệp sản xuất vật liệu chưa chú trọng đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, đổi mới công nghệ; không ít các sản phẩm nghiên cứu vẫn gặp rất nhiều khó khăn về ứng dụng và phát triển sản phẩm….

Dẫn kinh nghiệm của các quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc luôn coi trọng phát triển công nghiệp vật liệu, ông Nguyễn Đình Hậu đề xuất Đảng, Nhà nước cần khẩn trương ban hành Chiến lược quốc gia phát triển công nghiệp vật liệu giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây sẽ là kim chỉ nam, là cơ sở hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp vật liệu.

Đồng thời tiếp tục dành sự ưu tiên trong phát triển KHCN nói chung, KHCN lĩnh vực vật liệu nói riêng, coi đây là khâu theo chốt để phát triển công nghiệp vật liệu; nghiên cứu làm chủ công nghệ, tạo ra các chủng loại vật liệu mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh, hỗ trợ hình thành doanh nghiệp tiên phong trong sản xuất vật liệu; tăng cường tiềm lực KHCN cho các tổ chức, doanh nghiệp…

Nguồn VPG

Bắc Cực đang trở nên ấm hơn, băng biển giảm

Xu hướng ấm lên của Bắc Cực thường được nhắc đến như một sự việc bình thường, nhưng các tác giả của báo cáo cho rằng phần lớn các khu vực trong hệ môi trường Bắc Cực đang tiếp tục thay đổi rất nhanh.
Theo hãng thông tấn UPI, trong báo cáo hằng năm về Bắc Cực của Cơ quan Khí quyển và Đại dương quốc gia Mỹ (NOAA), nhiệt độ không khí trên mặt đất từ tháng 10/2019-9/2020 cho thấy Bắc Cực đang trải qua năm ấm áp thứ 2 kể từ năm 1900, khi dữ liệu bắt đầu được ghi chép.

"Bắc Cực đang chuyển thành một nơi ấm áp hơn, ít băng giá hơn và trải qua những thay đổi về sinh học", Rick Thoman, nhà khoa học khí hậu tại Trung tâm Nghiên cứu Bắc cực quốc tế thuộc Đại học Alaska Fairbanks, cho biết.

NOAA đã đều đặn xuất bản báo cáo này 15 năm. Theo đó, 9 trong 10 năm qua ghi nhận nhiệt độ không khí tăng ít nhất 1 độ C so với trung bình giai đoạn 1981-2010. Nhiệt độ Bắc Cực trong 6 năm qua đều vượt các kỷ lục cũ.

Theo báo cáo năm 2020 do 133 nhà khoa học từ 15 quốc gia biên soạn, mức nhiệt gần đạt kỷ lục năm nay có đóng góp của dải nhiệt độ cao ở miền Bắc Siberia vào mùa Xuân. Sóng nhiệt này làm giảm lượng tuyết ở vùng Á-Âu gần Bắc Cực trong tháng 6, khiến nơi này trải qua mùa cháy rừng nghiêm trọng chưa từng thấy, phá hủy diện tích rộng hơn 9,3 triệu ha.

Xu hướng ấm lên của Bắc Cực thường được nhắc đến như một sự việc bình thường, nhưng các tác giả của báo cáo cho rằng phần lớn các khu vực trong hệ môi trường Bắc Cực đang tiếp tục thay đổi rất nhanh. "Các báo cáo trong 15 năm qua đã thể hiện rõ, Bắc Cực của ngày hôm qua khác với hôm nay, Bắc Cực của hôm nay cũng không thể dự báo cho ngày mai", nhóm tác giả viết.

Băng biển tháng 10 thấp kỷ lục

Viện Khí tượng Đan Mạch ghi nhận diện tích băng biển tại Bắc Cực trong tháng 10 đang ở mức thấp chưa từng thấy do nước biển ấm bất thường.

Hằng năm, băng biển ở Bắc Cực tan chảy một phần vào mùa Hè, sau đó hình thành trở lại vào mùa Đông, bao phủ khoảng 15 triệu km2. Tuy nhiên, nước ấm bất thường do biến đổi khí hậu đang làm chậm quá trình phục hồi băng.

Theo dữ liệu vệ tinh hôm 27/10, diện tích băng biển bao phủ Bắc Cực mới đạt 6,5 triệu km2, thay đổi không đáng kể so với mức băng thấp nhất vào mùa Hè (khoảng 5 triệu km2).

"Đây là mức thấp kỷ lục trong tháng 10 trong ít nhất 40 năm qua (dữ liệu vệ tinh chỉ bắt đầu được thu thập từ năm 1979). Tốc độ phục hồi băng đang chậm hơn bình thường", nhà khoa học Rasmus Tonboe từ Viện Khí tượng Đan Mạch (DMI) cho biết.

Các phép đo cho thấy lượng băng ở Bắc Cực trong tháng 10 đã giảm 8,2% so với một thập kỷ trước. Xu hướng giảm dần qua các năm là rất rõ ràng.

Kể từ năm 1990, tốc độ ấm lên ở Bắc Cực nhanh hơn gấp đôi so với phần còn lại của thế giới, làm tăng tương tác giữa không khí, nước và băng. Hiện tượng được các nhà khoa học gọi là "khuếch đại cực" đang làm giảm diện tích bề mặt băng biển trong cả mùa Đông lẫn mùa Hè.

Hệ quả là ít băng biển phản chiếu ánh sáng Mặt trời hơn, hay nói cách khác, đại dương đang hấp thụ nhiều ánh sáng hơn, góp phần làm tăng nhiệt độ toàn cầu.

Viện Nghiên cứu tác động khí hậu Potsdam (PIK) của Đức ước tính rằng với mức CO2 trong khí quyển hiện nay là khoảng 400 phần triệu, chỉ riêng sự tan chảy của băng biển đã đủ làm nhiệt độ toàn cầu tăng thêm 0,2°C vào cuối thế kỷ 21.

Nguồn Chinhphu.vn

Mực nước biển đang tăng giảm bất thường

“Mực nước biển đang tăng lên ở một số nơi, nhưng ở khu vực khác lại đang giảm xuống”, Jacky Austermann, trợ lý giáo sư về Trái đất và khoa học môi trường tại Đài quan sát Trái đất Lamont-Deherty của Đại học Columbia (New York) cho biết. Austermann nói với Live Science: “Không có nơi nào tránh khỏi sự thay đổi về mực nước biển”.
Nước biển dâng gây ra các đợt lũ lụt trên toàn cầu - Ảnh minh họa
Nước biển dâng không phải là một hiện tượng mới. Theo Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hợp Quốc, trong phần lớn thời gian ở thế kỷ 20, mực nước biển trung bình toàn cầu đang nhích dần lên khoảng 1,4 mm mỗi năm.

Mực nước biển trung bình toàn cầu là mức trung bình của tất cả các vùng biển bao phủ Trái đất. Nhưng trong 2 thập kỷ qua, tỷ lệ này đã tăng hơn gấp đôi. Từ năm 2005 đến năm 2015, mực nước biển tăng 3,6 mm mỗi năm.

Tuy nhiên, liệu sự tăng mực nước biển này có đồng đều trên toàn thế giới?

“Mực nước biển dâng không đồng đều trên toàn cầu”, Kathy Mclnnes, nhà nghiên cứu cao cấp tại Tổ chức Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Khối thịnh vượng chung (CSIRO) ở Australia cho biết. Bà là người đứng đầu Nhóm Đề án và Khí hậu cực đoan thuộc Trung tâm Khoa học Khí hậu của CSIRO.

“Mực nước biển đang tăng lên ở một số nơi, nhưng ở khu vực khác lại đang giảm xuống”, Jacky Austermann, trợ lý giáo sư về Trái đất và khoa học môi trường tại Đài quan sát Trái đất Lamont-Deherty của Đại học Columbia (New York) cho biết. Austermann nói với Live Science: “Không có nơi nào tránh khỏi sự thay đổi về mực nước biển”.

Nguyên nhân chính khiến mực nước biển thay đổi là biến đổi khí hậu. Nhiệt độ tăng làm ấm không khí và nước. Không khí và nước ấm lên cũng làm tan chảy các tảng băng. Austermann nói: “Ở Nam Cực, nước biển ấm lên là nguyên nhân lớn nhất làm băng tan. Các sông băng tan chảy sẽ cung cấp nhiều nước vào đại dương hơn, do đó làm tăng thể tích của biển”.

Tuy nhiên, Mclnnes cho biết lượng nước thêm vào đó không trải đều trên toàn cầu.

Khi những tảng băng khổng lồ tan chảy, chúng không đơn thuần chỉ cung cấp thêm nước vào đại dương. Khối lượng hút khối lượng. Các tảng băng ở Nam Cực và Greenland lớn đến mức khối lượng của chúng tạo ra lực hút lên vùng biển xung quanh chúng, Austermann nói. Điều này làm cho mực nước biển cao hơn một chút ở những khu vực đó. Nhưng khi các tảng băng tan chảy, khối lượng của chúng cũng giảm, từ đó mực nước biển đang giảm xuống gần với các tảng băng tan chảy, ví dụ như ở Greenland, nhưng lại dâng lên ở phía đối diện của thế giới, trong trường hợp này là Nam bán cầu.

Bà Mclnnes cho biết, các tác động cục bộ như bơm nước ngầm, khai thác nhiên liệu hóa thạch và nén trầm tích cũng góp phần khiến mực nước biển dâng cao hơn. Ở một số khu vực, đặc biệt là những thành phố được xây dựng trên vùng đồng bằng như Tokyo và New Orleans, đất đang bị sụt lún còn mực nước biển thì dâng lên.

Các chu kỳ khí hậu cũng góp phần làm mực nước biển tăng giảm bất thường. "El Nino và La Nina gây ra hiệu ứng trông thấy khi tất cả nước dồn về một phía của lưu vực Thái Bình Dương trong một giai đoạn và sau đó lại dồn lên phía bên kia của lưu vực trong giai đoạn khác”, bà McInnes nói.

Nguồn Chinhphu.vn